| Khúc mắc quanh thời hạn báo trước chấm dứt HĐLĐ |
|
 |
TTO - * Chị Nguyễn Thị L làm tại công ty được 5 năm, tháng 9-2006 nghỉ thai sản đến tháng 1-2007. Sau thời gian này chị xin nghỉ thêm 4 tháng.
Đến ngày 21-5-2007, chị xin nghỉ đến 20-9-2007. Hết thời gian này chị xin nghỉ thêm 1 tháng nữa (từ 21-9 đến ngày 20-10) (tổng cộng chị nghỉ sau khi thai sản là 9 tháng). Ít ngày sau chị nộp đơn xin nghỉ luôn từ ngày 21-10 vì cho rằng đây là thời gian báo trước 30 ngày. Hợp đồng của chị với công ty là loại hợp đồng không xác định thời hạn.
Xin hỏi trường hợp này công ty có phải tính trợ cấp thôi việc không? Do chị chưa báo đủ thời gian báo trước và chị cũng không làm tại công ty trong 1 tháng báo trước nên chị phải bồi thường cho công ty nửa tháng tiền lương, có đúng không? (Lê Văn Bình)
- Tư vấn của luật sư Nguyễn Văn Hậu:
Theo Điều 114 Bộ luật lao động (BLLĐ) hiện hành thì người lao động nữ được nghỉ trước và sau khi sinh con cộng lại từ 4 đến 6 tháng do Chính phủ quy định tùy theo điều kiện lao động, tính chất công việc nặng nhọc, độc hại và nơi xa xôi hẻo lánh.
Khi hết thời gian nghỉ thai sản theo quy định pháp luật, nếu có nhu cầu, người lao động nữ có thể nghỉ thêm một thời gian không hưởng lương theo thỏa thuận với người sử dụng lao động.
Trường hợp chị L nghỉ sau khi thai sản là 9 tháng là do sự thỏa thuận giữa chị và công ty. HĐLĐ của chị là loại hợp đồng không xác định thời hạn nên chị có quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ nhưng phải báo cho người sử dụng lao động biết trước ít nhất 45 ngày (khoản 3 Điều 37 BLLĐ). Thời gian chị L xin nghỉ thêm sau khi sinh không được tính vào thời gian báo trước khi đơn phương chấm dứt HĐLĐ.
Trong trường hợp này, do không tuân thủ thời hạn báo trước nên chị L không được hưởng trợ cấp thôi việc (Điều 14 Nghị định 44/2003/NĐ-CP ngày 9-5-2003 của Chính phủ), ngược lại chị phải bồi thường cho người sử dụng lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của chị L trong những ngày không báo trước (khoản 4 Điều 41 BLLĐ).
Luật sư NGUYỄN VĂN HẬU |
|